Thứ Hai, 18 tháng 11, 2019

Dấu hiệu thoái hóa xương sụn tuổi thiếu niên

Thoái hóa xương sụn thiếu niên là một nhóm bệnh hay gặp ở trẻ mỏ đang tuổi phát triển nhưng chưa rõ căn do. Người ta cho rằng có thể yếu tố vi chấn thương lặp đi lặp lại là căn nguyên khởi phát bệnh. Từ đó dẫn đến sự giảm hay mất máu nuôi dưỡng tới vị trí trung tâm cốt hóa ở đầu xương của một số xương, gây thương tổn trọng điểm cốt hóa, hoại tử tại chỗ, mọc xương tân tạo, hậu quả là xương phát triển không thường ngày.

miêu tả bệnh thường khó nhận biết

Nhìn chung bệnh có tiến triển âm ỉ, đau ít tại vị trí xương bị tổn thương. Một số bệnh như bệnh Kienbock có thể có tả sưng đau ở vùng cổ tay, chỗ vị trí xương nguyệt, hoặc bệnh Legg-Perthes-Calve đau nhiều, hạn chế vận động tại vùng khớp háng, đi lại khó khăn hoặc bệnh Scheuermann có diễn đạt đau nhiều kèm biến dạng gù cột sống. Bệnh viêm xương sụn bóc tách là do một số mảnh xương hay sụn tự tách rời ra khỏi xương, rơi vào trong khớp gây ra các triệu chứng như “tiếng kêu chuột khớp” do chúng chuyển di ở trong khớp, dấu hiệu kẹt khớp, đau hạn chế vận động khớp.

Điều trị bao gồm thuốc điều trị triệu chứng, hồi phục chức năng, sử dụng nẹp khăng khăng, ngơi nghỉ tránh làm việc nặng và giải phẫu chỉnh sửa khi cấp thiết.

Nhìn chung kết quả điều trị rất đổi thay, phụ thuộc vào vị trí tổn thương, phát hiện bệnh sớm hay muộn. phần nhiều các các trường hợp mắc bệnh Sever hay bệnh Freiberg tự khỏi, không đau, xương không biến dạng. Ngược lại bệnh Legg-Perthes-Calve hay gây đau nhiều, để lại di chứng nặng nề, thường cần phải thay chỏm xương đùi.

Một số bệnh trong nhóm thường gặp và phương pháp điều trị

Thoái hóa xương sụn cột sống
là một bệnh gây biến dạng cột sống ngực hoặc cột sống dây lưng, hay gặp ở trẻ em. Lâm sàng bao gồm triệu chứng đau âm ỉ tại khu vực thương tổn, cảm giác tức nặng, thường cách quãng không liên tục và liên hệ đến hoạt động thể lực, giảm khi ngơi nghỉ. Khám bệnh nhân thấy gù cột sống, có thể có vẹo gây giảm, hạn chế vận động rõ. Co cơ cạnh cột sống, đặc biệt ở ngay trên và dưới vị trí gù. Các triệu chứng thần kinh do chèn ép hiếm khi gặp.
Điều trị bao gồm bảo tồn nội khoa và chỉnh hình ngoại khoa. Điều trị nội khoa hồi phục chức năng, dùng thuốc giảm đau, ngơi nghỉ, tránh công việc mang vác nặng. Khi gù nặng hơn, cần mặc áo nẹp cột sống giữ cho lưng thẳng kèm các biện pháp phục hồi chức năng cột sống kết hợp thư giãn ngơi nghỉ, nằm trên giường cứng.
Điều trị giải phẫu ít khi chỉ định trong bệnh Scheuermann, chính yếu khi đau nhiều không đáp ứng với điều trị bảo tàng nội khoa và gù gây mất thẩm mỹ. Nhìn chung, điều trị cần cứ vào tuổi tác, mức độ biến dạng cột sống, mức độ đau và đánh giá hiệu quả chức năng đạt được sau mỗi giai đoạn.

Bệnh dẹt chỏm xương đùi

Còn gọi là bệnh Legg-Perthes-Calve: do tổn thương ở đĩa sụn phát triển ở đầu xương, gần chỏm xương đùi. Bệnh hay gặp ở tuổi từ 3-12, hay gặp ở nam giới hơn (gấp 4-5 lần nữ). tổn thương thường ở một bên, có thể gặp ở hai bên (15-20% trường hợp).
Triệu chứng đau thiên nhiên ở khớp háng, gối hoặc vùng đùi, đi lại khập khiễng. Khám thấy hạn chế vận động khớp háng, đặc biệt động tác xoay trong hay dạng, có thể teo cơ nếu ở tuổi muộn. Chân thương tổn thường ngắn hơn chân lành. Xét nghiệm máu thường không phát hiện gì đặc biệt. Chụp Xquang khớp háng, đặc biệt ở phong thái dạng chân (chân ếch) có giá trị chẩn đoán: chỏm xương đùi bên tổn thương nhỏ hơn bên lành, có thể dẹt hẳn chỏm; có xơ hóa và hình ảnh giảm thấu quang ở vùng thương tổn dưới sụn; có thể có các nang xương nhỏ ở vùng cổ xương đùi.
Thường chia 5 giai đoạn tổn thương trên Xquang và tiến triển bệnh: giai đoạn ngừng phát triển của đầu xương, trình bày bên tổn thương chỏm xương đùi nhỏ hơn, khe khớp rộng hơn; thời đoạn gẫy xương dưới sụn: hình vạch tăng thấu quang ở vùng cổ nối với chỏm; tiêu xương; thoái hóa thứ phát với mọc xương tân tạo; thời đoạn ổn định. Việc điều trị bao gồm nghỉ ngơi hợp lý, tránh vận động mạnh, tập hồi phục chức năng, nẹp khớp háng khi cần để tránh trật khớp khỏi ổ cối.
Thuốc điều trị triệu chứng giảm đau, giãn cơ. phẫu thuật chỉnh sửa những biến dạng nhiều ở chỏm xương, khi cần có thể xét thay khớp háng (thường khi trẻ đến tuổi trưởng thành). Nhìn chung tuổi phát khởi bệnh càng nhỏ tiên đoán càng tốt, phát khởi sau tuổi lên 10 thì trẻ dễ bị thoái hóa khớp háng thứ phát.

ThS. Bùi Hải Bình

0 nhận xét:

Đăng nhận xét